Nguồn gốc Bếp Hoàng Cầm

Nếu ai đã từng đi lính không thể không biết chiếc bếp Hoàng Cầm. Và việc người chiến sỹ nào cũng phải biết cơ bản chiếc bếp này. Lên google.com gõ “hoàng cầm” hoặc là “bếp hoàng cầm” sẽ ra kết quả 2 người đó là tướng Hoàng Cầm và nhà thơ Hoàng Cầm. Đại đa số chúng ta sẽ nghĩ chắc là vị tướng kia rồi, nhưng sự thật tác giả chiếc bếp Hoàng Cầm nổi tiếng không phải vị tướng quân đội này và cũng không phải nhà thơ Hoàng Cầm với bài “Bên kia sông Đuống” nổi tiếng kia. Và thực sự người sáng tạo ra chiếc bếp cho quân đội sử dụng tận ngày nay chỉ mang quân hàm thiếu úy khi ra quân.

Hoàn cảnh ra đời Bếp Hoàng Cầm

Khi đơn vị tham gia chiến dịch Hoàng Hoa Thám và chiến dịch Hòa Bình năm 1952, được tận mắt chứng kiến cảnh đồng đội bị thương vong nhiều, sức khỏe giảm sút do máy bay địch oanh kích và điều kiện ăn uống không đảm bảo. Hoàng Cầm nhận ra chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bộ đội ta chiến đấu, hy sinh không chỉ ở mặt trận giáp mặt quân thù mà hy sinh, thương vong ngay cả khi về hậu cứ nghỉ ngơi, sinh hoạt. Nguyên nhân của việc mất mát ấy có một phần do việc nấu ăn vì ban đêm thấy lửa ban ngày thấy khói. Rất nhiều thương vong của bộ đội xuất phát từ việc “khói bốc lên giữa rừng”, máy bay địch phát hiện đã trút bom đạn xuống. Tổ anh nuôi của Hoàng Cầm và nhiều đơn vị khác phòng tránh bằng cách chuyển sang nấu ăn ban đêm, khi máy bay địch tới thì dập lửa, dội nước, nhưng nhiều khi vẫn không tránh kịp tai họa. Đang đun, dập lửa, cơm thường bị khê, sống. Nấu ăn ban đêm, ban ngày cơm nguội lạnh, bộ đội ăn không đảm bảo sức khoẻ.

Hoàng Cầm đã trăn trở ngày đêm suy nghĩ, mình phải làm một cái gì đó giúp cho đồng đội giảm bớt thương vong. Một buổi sáng dạo bên bờ suối, nhìn làn khói lượn lờ quanh mái bếp, Hoàng Cầm chợt nảy ra sáng kiến làm một kiểu bếp có thể nấu nướng mọi thứ ban ngày mà không sợ máy bay địch phát hiện. Sau nhiều ngày miệt mài nghiên cứu, vẽ sơ đồ một số kiểu bếp, và nhiều lần làm thử nhiệm. Hoàng Cầm đào hàng chục cái bếp khác nhau, với những kiểu bếp khoét sâu vào trong lòng đất có nhiều nhánh dẫn khói giống như hang chuột. Làm xong anh đặt nồi lên từng cái bếp, chất củi đun thử. Kết quả tạm được, nhưng lửa vẫn lộ, khói vẫn phảng phất bay lên. Không nản chí Hoàng cầm lại hì hục đào hàng chục cái bếp khác nữa. Lần này Hoàng Cầm đào các đường dẫn khói chẽ ra nhiều nhánh và dài gấp đôi. Trên rãnh dẫn khói rải cành cây rồi đổ đất san phẳng. Phía trước cửa bếp đào một hố sâu, trên lợp nilon hoặc lá vừa để đồ, vừa che ánh lửa và có hầm chứa khói, hút lửa mạnh hơn.

Cuối cùng, Hoàng Cầm đã tạo ra một kiểu bếp như ý, bếp lò khoét vào sườn đồi hoặc đào sâu xuống với những đường rãnh giống như râu mực từ bếp lò bò đi khá xa, trên rãnh được lát bằng cành cây và phủ đất ẩm tạo thành những ống thoát khói. Từ trong lò tuôn ra, khói tỏa vào khắp các rãnh, bốc lên gặp lượt đất ẩm, bị lọc và cản lại, lan ra là là trên mặt đất, thoảng nhẹ nhàng như làn sương buổi sớm. Kiểu bếp này ngay sau đó đã được phổ biến rộng rãi đến các đơn vị và được anh em nuôi quân hoan nghênh.

Bếp do Hoàng Cầm sáng tạo rất phù hợp với bộ đội thời chiến, kín lửa, khói không bốc cao, anh nuôi nấu ăn cả ngày, cả tối, không sợ máy bay địch phát hiện. Bộ đội có cơm nóng, canh ngọt. Mỗi khi ém sát địch, anh nuôi vẫn nổi lửa đêm ngày. Tháng 10 năm 1952, đơn vị đã quyết định lấy tên người chiến sỹ sáng tạo ra để đặt tên bếp: Bếp Hoàng Cầm.

Hiệu Qủa của Bếp Hoàng Cầm

Từ khi ra đời cho tới nay, bếp Hoàng Cầm được sử dụng rộng rãi trong quân đội Việt Nam và là bắt buộc sử dụng ở tất cả các đơn vị. Với sáng kiến này, bộ đội đã được ăn cơm nóng, có nước nóng để uống trong mùa đông, các viện quân y dã chiến có nước nóng để sát trùng dụng cụ y khoa… Sáng kiến này có giá trị lớn trong thực tiễn hoạt động hành quân, chiến đấu và góp phần quan trọng giữ gìn sức khỏe cho bộ đội. Từ khi bếp Hoàng Cầm ra đời các chiến sĩ nuôi quân không còn lo sợ máy bay địch nhòm ngó mỗi khi nổi lửa, bộ đội ta không phải ăn cơm nguội do nấu vào ban đêm. Bếp Hoàng Cầm đã góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn sức khỏe cho bộ đội, đảm bảo quân số chiến đấu cao.

Trong hồi ức “Đường tới Điện Biên Phủ” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (NXB QĐND- 2001), có đoạn viết: “Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc ở đây một sáng kiến đã mang lại sự cải thiện rất quan trọng trong đời sống các chiến sỹ ngoài mặt trận“.

Cuộc đời vất vả của cha đẻ chiếc bếp Hoàng Cầm

Kết thúc kháng chiến chống Pháp, Hoàng Cầm được thưởng Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên Phủ và Huân chương Chiến thắng hạng Ba. Sau đó, được vinh dự đi trong đoàn quân Sư đoàn về tiếp quản thủ đô Hà Nội (10-10-1954).

Năm 1958, sau khi chỉnh biên, toàn quân bước vào học tập, huấn luyện, thực hiện xây dựng quân đội theo chế độ thời bình. Đồng thời thi hành chủ trương giảm quân số, giải quyết cho hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ đã qua thử thách chiến đấu, phục viên về gia đình, chuyển ngành tham gia xây dựng công nông lâm trường, củng cố hậu phương. Hoàng Cầm được ra quân đầu năm 1959 với quân hàm thiếu uý. Đông đảo bà con Tam Đảo xuống tận Gốc Gạo (cây số 20 đường Vĩnh Yên Tam Đảo) long trọng và thân tình đón ông về. ông mất ngày 12/3/1996 tại Quân y viện 108, thọ 80 tuổi. Sau ngày mất, ông được thăng quân hàm Đại uý.

Có thế không nhiều người biết sau khi xuất Ngũ Hoàng Cầm rơi vào cuộc sống khó khăn, hầu như không ai biết ông chính là cha đẻ chiếc bếp cho toàn quân sử dụng tới ngày nay. Trong lá đơn thứ 2 đề ngày 15/3/1994 của Hoàng Cầm có đoạn: “… Cả gia đình tôi bốn bố con, ông cháu ở nhà một “mái vẩy” 9m2 của trường Phổ thông trung học Phan Đình Phùng cho mượn. Tôi không biết nằm dọc, nằm nghiêng, ngửa thế nào cho tiện. Các cháu học sinh của con tôi, bạn bè, đồng đội đến thăm khi đau yếu, thật ái ngại, xin ngồi xuống đất. Lúc ốm chìa tay bấu đồng lương ít ỏi của con để mua thuốc, thật không đành. Cực chẳng đã, có lần tôi chống gậy đến một bệnh viện khám bệnh và xin thuốc, một nhân viên phòng khám bảo: Bác phải có sổ, có giấy tờ, chế độ mới được khám cấp thuốc. Tôi trình bày, tôi là Hoàng Cầm, bộ đội phục viên ở với con nên không có giấy tờ gì. Họ nói: Một Hoàng Cầm chứ mười Hoàng Cầm cũng vậy thôi. Tôi viết lá đơn này đề nghị cấp trên xét cấp cho tôi một cái sổ khám bệnh, một tiêu chuẩn nhà đất như hàng vạn người khó khăn khác để ổn định sức khoẻ đoạn đời còn lại. Năm nay tôi đã 78 tuổi. Để khỏi có lúc chợt nghĩ “nếu có mệnh hệ nào” tôi không muốn nằm tại 9m2 nhà đi mượn cho con cháu khỏi phiền lòng…”. Và cuối cùng Lời thỉnh cầu của ông đã được những người làm chính sách hết lòng giúp đỡ.

Và cuối cuộc đời nhà nước cũng đã giải quyết cho ông một căn nhà 43m2 ở khu tập thể 28 Điện Biên Phủ, Hà Nội, một quyển sổ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Quân đội và tạo việc làm cho người con dâu của ông là chị Minh, vợ anh Hoàng Thư vào giữ trẻ tại cơ quan. Nhưng Hoàng Cầm cũng chí sống trong căn nhà cơ quan cấp đúng 2 năm rồi mất.

Có thể ngày nay nhiều người không biết Hoàng Cầm là ai, nhưng di sản chiếc bếp ông đế lại cho quân đội vẫn luôn theo chân các chiến sỹ trong toàn quân.

Nhân ngày 27_7 xin gửi tới lời tri ân những người đã ngã xuống vì nền độc lập nước nhà, những người đã để lại một phần thân thể nơi chiến trường và những người chưa bao giờ có tên trong trang sách, những cựu binh, bà mẹ liệt sỹ vẫn loay hoay trong những căn nhà tạm. Họ có thể xa lạ với tất cả mọi người nhưng công lao đóng góp họ là bất diệt.

Copy từ Nguyễn Linh

nguồn: face Nguyễn Lâm do Thanh Tuyên Vũ cung cấp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *